Ở cái hồ nơi tận cùng biên giới – Nguyễn Thiên Ngân

Không phải Bắc cực, tất nhiên. Không phải những đỉnh băng tuyết chập chùng ở Trung Á, tất nhiên. Anh đang ở Ulaanbaatar, thủ đô có mùa đông lạnh nhất thế giới. Và anh sẽ đến cái hồ nơi tận cùng biên giới.

Anh đến Mông Cổ lần đầu tiên vào mùa hè năm 24 tuổi. Đó là một trong những ngày tuổi trẻ đẹp nhất cuộc đời. Nắng đẹp, núi xanh, trời xanh. Sân bay Chinggis Khan nhỏ như một cái sân bay tỉnh lẻ. Anh vẫy tay đi nhờ chiếc xe tải nhỏ cũ kĩ vào Ulaanbaatar. Anh tài xế mặt đỏ, mắt híp mở một băng nhạc tiếng Mông Cổ – cái thứ tiếng mà ban đầu nghe cứ ngờ ngợ tưởng đang nghe tiếng Hàn. Nhưng rồi thì sau đó nó ngấm vào tâm trí như một thứ tín hiệu du dương thân thuộc không thể nào nhầm lẫn. Anh ngồi, miệng cười không thể nào ngậm lại được, tay vỗ vào cửa xe đầy bụi theo nhịp bài hát một cách đầy kích động. Anh tài xế thi thoảng lại quay sang nhìn anh gật gật đầu, nói OK liên tục. Đó là từ tiếng Anh duy nhất mà anh ta biết.

Mới đó mà đã 10 năm rồi.

10 năm trước, anh đã rời Mông Cổ trước khi mùa đông đến. Sau chuyến đi tuyệt vời nhất của đời mình, anh trở về Việt Nam, vào làm việc cho một agency quảng cáo. Anh không quay lại Mông Cổ cho đến tận bây giờ, dù miền đất ấy vẫn ám ảnh anh mỗi khi nhớ về. Không phải vì anh không có thời gian. Giữa những lần chuyển việc, anh đã đi những chuyến đến Sri Lanca, Nepal trong ba bốn mươi ngày. Nhưng thật vô lý khi người ta quay lại một nơi mình đã từng ở đến ba bốn tháng, trong khi thời gian và tiền bạc thì có hạn, mà thế giới này thì thật là rộng lớn và còn bao nhiêu nơi phải đến.

Nhưng rồi anh đã trở lại, vào mùa đông.

*

- Anh từng ở đây, hả? – Eric, chủ của Golden Gobi Guesthouse nhìn anh.
- Trí nhớ anh tốt thật.
- Năm đó tôi vừa mở guesthouse này. Rồi tôi nhận ngay hợp đồng chuẩn bị cho chuyến khám phá của anh và Mike, làm sao tôi quên được. Thỉnh thoảng tôi vẫn chiếu cuốn phim tài liệu của các anh cho khách ở đây xem.
- Ở đây không có gì thay đổi lắm. – Anh nhìn quanh.
- Ở phòng riêng, hay dorm? – Eric mỉm cười hất đầu thân thiện.
- Phòng đơn.
- Còn gì nữa không?
- Chuẩn bị cho tôi một chiếc xe Jeep Nhật trong 15 ngày, ngày mai xuất phát. Và một tour assistant đồng thời là tài xế. Chỉ là phòng hờ thôi. Còn thực tế, tôi sẽ tự lái.
- Nên vậy. Mùa này lái xe nguy hiểm lắm, nhất là nếu không thông thạo địa hình. Anh định đi đâu?
- Tôi lên miền Bắc.
- À.

Mới đầu tháng 12, những cửa tiệm đã trang trí những cây thông giáng sinh lộng lẫy. Mới mùa hè nào đó anh còn say sưa ngồi ở quảng trường trung tâm ngắm mặt trời 10 giờ đêm chưa lặn, vậy mà bây giờ đã là ba giờ chiều của mùa đông 10 năm sau, trời tối sầm u ám, chỉ có những mái nhà phủ tuyết trắng hắt lên thứ ánh sáng lờ nhờ. Bảng điện tử chỉ – 40 độ F. Ulaanbaatar là thủ đô lạnh nhất thế giới, anh lẩm bẩm. Rồi anh chữa lại, UB là thủ đô lạnh nhất thế giới. Ngày xưa khi mới đến đây, anh đã nhanh chóng học theo kiểu gọi của Mike. Gọn gàng, thân thiết. Anh tưởng tượng mình đang là một củ hành tây, mặc tới 6 lớp áo, đi giày cao cổ, lần mò từng bước trên vỉa hè đẫm tuyết của UB. Anh nghĩ nếu bẻ những ngón tay của mình bây giờ, chúng sẽ gãy giòn tan như những thỏi băng mảnh.

Năm phút đi bộ làm anh gần như điên loạn. Anh chui ngay vào một quán cà phê thắp đèn vàng ấm, chọn chỗ ngồi là chiếc sô pha gần lò sưởi. Trong quán ấm sực. Anh cởi jacket lông vịt dày cộp ngoài cùng vắt lên thành ghế – vậy đó, củ hành tây đã tự bóc lớp vỏ dày ngoài cùng – hơ tay gần ngọn lửa, cứ phập phồng sợ bàn tay gần như đóng băng của mình sẽ bị cháy xém trong khi mình không hề có chút cảm giác nào. Anh gọi trà nóng và súp nóng, chăm chú đọc một cuốn catalouge quảng cáo về lễ hội mùa đông ở hồ Khuvsgol. Người ta chụp ảnh ngôi làng nhỏ Khatgal với những ngôi nhà gỗ chìm trong tuyết trắng, hệt như một ngôi làng cổ tích. Anh nghĩ, nếu mình đang là nhân vật của một truyện ngắn diễm tình, tay nhà văn sến ói sẽ tả rằng “Mắt anh nhòa nước” hoặc “Mũi anh bỗng dưng cay xè”. Nhưng không như thế. Chỉ là một cảm giác lặng lẽ lan từ chân đến đỉnh đầu, là anh – trong một phút giây – bỗng đông cứng lại như một chi tiết, kiểu như nắm đấm cửa hay chiếc cốc, và không còn chút gì thuộc về thế giới sống này nữa.

Ngày xưa, anh đến đó vào những ngày hoa dại mọc đầy cánh đồng rộng ngoài mé Bắc và không gian chung quanh dậy hương của núi mùi hè. Từ phía con đường làng, thỉnh thoảng có bóng một người cưỡi ngựa lọc cọc chạy ngang qua, trong bóng nắng ngược chiều dễ tưởng tượng ra đó là một con nhân mã. Anh tài xế thả họ xuống cánh đồng, rồi quay xe vào làng để bảo dưỡng. Mike đang hì hụi dựng lều, điếu thuốc lá nhăn nheo cháy trên môi, râu quai nón rậm rạp đầy mặt. Anh – bấy giờ còn là một cậu trai trẻ – đang nấu nước trên chiếc bếp ga dã chiến để pha cà phê. Cảnh tượng ấy sống động như mới hôm qua, thậm chí mùi thuốc lá của Mike vẫn còn vướng vất trên mũi anh, và cái lạnh lúc về chiều của miền Bắc vẫn còn tê tái đâu đó trên vành tai. Elsa xuất hiện trong cái khung cảnh thần tiên đó, như một tấm ảnh polaroid mãi mãi gắn trên tấm bảng tâm trí của anh. Anh còn nhớ, từ xa, như một con nhân mã cái xinh đẹp, mái tóc màu hạt dẻ tung bay trong ánh nắng, mũ len màu rượu chát, áo gió sột soạt, hai tấm cap quấn quanh chân màu xanh da trời – màu may mắn của người Mông Cổ. Cô kêu lên “ttttrrruuuuuu”, ghì cương con ngựa màu ghi, dừng lại cách họ chừng vài ba bước.
- Hello – Cô cười rạng rỡ – Các anh cắm trại ở đây à?
- Phải rồi, nữ kỵ sĩ. – Mike dừng tay, rít một hơi thuốc, chống nạnh nhìn cô gái – Cưỡi ngựa khó chứ?
- Dễ như chơi. – Cô nhảy xuống ngựa, chìa tay bắt tay Mike. – Tôi là Elsa, người Canada.
- Mike, người Anh. Còn đây là đồng hành của tôi. – Mike chỉ sang anh, lúc này vẫn còn đang loay hoay với xoong nước, mà mắt thì đã dán vào cô từ lúc nào.
- Tuân, Việt Nam.
Nhanh chóng, anh vào lều lấy thêm một cái cốc nhựa, pha thêm một ly cà phê cho cô. Ba người họ ngồi ngoài cửa lều nói chuyện thật lâu, mặc cho gió lạnh thổi hù hù và đám hoa dại bắt đầu cụp cánh. Elsa nói tiếng Anh có xen giọng Pháp, vì cô đến từ Quecbec. Cô vừa tốt nghiệp đại học ngành Du lịch mạo hiểm, và hiện đang là thành viên của một nhóm thám hiểm gồm các thành viên cùng trường đại học. Họ đang thử nghiệm tuyến đường từ hồ Khuvsgol lên Baikal bằng thuyền kayak. Hiện bốn người họ đang ở một khu gher trong làng.
- Hãy tưởng tượng nhé, hồ Baikal có một cái hồ sinh đôi, đó chính là hồ Khovsgol. Một hồ thì nằm ở Mông Cổ, một hồ thì nằm ở Nga, và thực tế, nước từ hồ Khuvsgol chảy thông sang hồ Baikal, nhưng nước phải đi vòng vèo đến những trên 1000 km, thông qua hai con sông là Egiin Gol và Selenge; dù theo đường chim bay thì hai cái hồ này chỉ cách nhau có 200km. Chúng tôi sẽ đi cái đường nối vòng vèo đó bằng kayak! – Elsa nói – Chúng tôi định sẽ ở đây nửa năm.
Anh và Mike nhìn nhau, không dưng đều cảm thấy chuyến hành trình của họ đang đi so với chuyến đi của nhóm cô gái này chỉ là mắt muỗi. Họ có thông dịch viên, có xe hai cầu, có gần hai chục ngàn bảng Anh cho một bộ phim tài liệu 10 phút.
Elsa đứng lên, vuốt lại mái tóc chảy trên vai:
- Thôi tôi quay về gher đã. Cảm ơn vì cà phê nhé. Gặp các anh rất vui!
- Tôi đi cùng với cô vào làng. Tôi muốn mua vài thứ. – Anh bỗng đứng bật dậy. Khi người ta trẻ, việc thích một ai rất khó che giấu. Mike cười, nhìn anh ra chiều biết tỏng, chỉ nhờ anh mua giùm mấy gói thuốc.

Trên đường về làng, Elsa bày cho anh cách dắt và vỗ về ngựa. Hóa ra cô đã là một kỵ sĩ thực thụ từ hồi 13 tuổi. Cô nói liếng thoắng như chim chích khi anh hỏi về chuyến đi. Cô kể cô lo hậu cần trong đoàn, là chef cook. Ba người còn lại luôn thán phục tài nghệ của cô, vì mỗi ngày cô có khả năng nấu một món khác nhau mà toàn bộ nguyên vật liệu mãi mãi vẫn chỉ là bắp cải và khoai tây. “Tôi là người nói nhiều nhất nhóm đấy. Những người còn lại, anh sẽ thấy họ hơi khác người” Cô nháy mắt cười.

Thật vậy, khi Elsa giới thiệu anh với những người bạn đồng hành ở khu gher, anh cảm thấy rõ sự “khác người” mà cô nói. Trưởng nhóm, chuyên viết script là một anh chàng to như gấu và mặt mày quạu đeo. Cô gái làm nhiệm vụ quay phim khá lạnh lùng. Còn Eric, anh chàng lo máy móc thì lúc nào cũng nói tiếng Anh chen tiếng Pháp loạn xạ và có vẻ mặt lờ đờ của một tên giết người hàng loạt. Chỉ một lát sau, họ kéo nhau vào quán cà phê để lên mạng bằng thiết bị thu phát sóng từ vệ tinh – thứ anh lần đầu được nhìn thấy – chỉ để lại Elsa và anh trước cửa gher. Anh cảm thấy nếu không có cô gái sinh động này, nhóm thám hiểm đó sẽ giống một nhóm mật vụ đang làm nhiệm vụ đặc biệt hơn. Đặt bom dọc theo hồ Khuvsgol và Baikal chẳng hạn.

Elsa bảo anh đốt một đống lửa. Rồi họ ngồi bên đống lửa, trên một phiến gỗ dài. Bỗng nhiên cô đưa cho anh một cuốn sổ nhỏ bìa da. “Gì vậy?” Anh hỏi. “Nhật ký của tôi, đọc không?” Cô nháy mắt. Anh sững sờ nhìn cô rồi lần giở từng trang, phát hiện ra cô viết nó bằng tiếng Pháp. “Tự nhiên tôi muốn cho ai đó đọc nhật ký của tôi quá. Tôi đã trải qua những lúc như thế đấy! Mà ai bảo anh không biết tiếng Pháp làm chi” “Khoan nào, tôi sẽ đọc” Anh nói, rồi chăm chí lật từng trang, lướt mắt qua từng dòng ký hiệu mà đối với anh là vô nghĩa. Cô mỉm cười rút trong túi ra một con dao nhỏ sắc lẻm, chăm chú gọt một lõi gỗ. Chẳng bao lâu, mặt đất quanh chỗ cô ngồi phủ đầy vụn gỗ, mà cái lõi kia thì vẫn chẳng ra hình thù gì. Anh đọc đến trang cuối cùng, gỡ mẩu bút chì nhỏ giắt trong túi áo khoác ra ghi mấy dòng chữ nhỏ. “Đã đọc. Dù không hiểu gì cả, nhưng điều này thực sự có ý nghĩa với tôi. Tuan Le – Vietnam” Elsa đọc dòng chữ, nhìn anh, mắt chợt long lanh, hay là anh tưởng vậy. Anh không nhớ. Đã mười năm rồi.
Đống lửa tàn. Trời tắt hẳn nắng, chuyển sang đêm. Cô thu dọn những tấm pin mặt trời rồi vẫy tay ra hiệu cho anh vào gher. Anh không khỏi hoa mắt vì đống thiết bị tối tân họ mang theo. Elsa ném mấy cái mái chèo thuyền kayak xuống đất, ra hiệu cho anh ngồi xuống chiếc giường đơn của cô. Rồi cô xách ra một chai vodka hiệu Khuvsgol, khéo léo rót nó vào một cút rượu thép qua cái lỗ nhỏ như mắt muỗi mà không nhễu ra một giọt nào. “Uống miếng không?” Cô nói, chìa cút rượu cho anh. Nó là một cái chai thép rất đẹp có khắc dòng chữ“Cocotte la cocotte – Mongolie – Baikal 2000” “Cocotte là gì vậy?” Anh hỏi. “Là món thịt hầm. Một kiểu gọi thân thương ấy mà. Mẹ tôi tặng cho tôi trước chuyến đi” Anh hớp một ngụm, nghe hơi rượu bốc lên nóng cả mặt, váng cả đầu. Elsa đón lấy cút rượu, cũng uống một hớp. Vô tình làm sao, đôi môi cô chạm ngay chỗ môi anh vừa đặt. Họ nhìn nhau ngỡ ngàng như kiểu nhờ rượu mà can đảm đột xuất, hay nhờ rượu mà tự dưng người này thấy người kia quyến rũ không ngờ. Đó là nụ hôn dài nhất mà anh từng biết trên đời. Ngoài trời gió rú, bầy ngựa gõ móng lộp cộp trên đường, bầy bò yak cào móng sồn sột vào vách gher. Bên trong gher, gỗ thông cháy tí tách. Hơi thở cô thơm mê man. Bàn tay cô luồn vào cổ áo anh lạnh toát. Mặt anh áp vào ngực cô nóng bỏng…

Họ đi ngựa đến hồ Khovsgol, ở lại năm ngày. Họ đã làm tình trên cái giường nhỏ xíu trong cái gher bừa bộn thiết bị của cô, hay trong lều của anh – trên cái túi ngủ trải rộng vẫn không làm dịu đi sự sắc cạnh của đất đá cỏ cây bên dưới. Họ làm tình trong ngôi nhà gỗ đang làm dở dang, trên băng ghế sát bờ đá trong đêm trăng và tiếng nhạc từ đâu đó vọng lại giật tung lồng ngực. Rồi họ chia tay. Anh sẽ theo kế hoạch, quay về miền Trung rồi đi miền Tây, trong khi Elsa sẽ khởi hành ngược lên miền Bắc, sang Nga. “Nếu có dịp nào đó đến Việt Nam, em sẽ tìm anh” Elsa nói. “Anh nghĩ sẽ có ngày đó.” Họ ôm nhau trước cái hồ trong veo như lọc và rộng như biển, bầy hải âu chao liệng trên đầu. Chiều hè. Trời và hồ xanh biếc. Những cây thông rụng lá Siberi viền quanh đường hồ như một lằn ranh mộng mị. Giá có thêm một chai rượu bồ công anh để mang theo trong balô, đóng chai lại hương vị của mùa hè đầy xáo động ấy.

Một tháng sau đó khi về UB, Mike đưa cho anh tờ báo tiếng Anh mà anh ta tình cờ đọc được trong quán cà phê. Elsa McLandry, 25 tuổi, thuộc nhóm thám hiểm người Canada bị cho là đã mất tích trên hồ Khuvsgol. Cô ấy dong thuyền ra hồ một mình, không thông báo với những người đồng hành. Người ta chỉ tìm thấy cuốn nhật ký của cô và chiếc áo phao cùng mái chèo bỏ lại trên thuyền kayak. Trong cuốn nhật ký không viết gì lạ. Cô gái trẻ vẫn tỏ ra rất háo hức với chuyến đi tuyệt vời nhất đời mình. Anh tránh không nhìn Mike, cố gắn kết hình ảnh cô gái ấm nóng nằm trong vòng tay mình cách đây ít lâu, cô gái mà anh nhớ mỗi ngày mỗi đêm trong suốt cuộc hành trình xuyên Mông Cổ với cái cô Elsa McLandry xa lạ nào đó đã mất tích trên hồ, để lại những thứ mang đầy mùi tuyệt vọng.

Vậy đó, mười năm rồi.

- Master Tuan! – là Mike. Anh ta vẫn gọi anh như vậy.
Mike dắt theo một cậu bé chừng năm tuổi, con anh ta với một cô gái bản xứ. Từ chuyến đi đó, Mike ở hẳn lại UB, làm cộng tác viên cho một kênh truyền hình thám hiểm của Anh. Rồi anh ta lấy vợ, sinh con, mua một căn hộ ngay trung tâm, một năm đi khoảng ba bốn chuyến dài để quay phim, tìm tư liệu. Thời gian còn lại, anh viết báo và dạy tiếng Anh ở trại trẻ mồ côi. Mike đã sống cuộc đời êm ả hơn anh ta hoạch định khi họ còn trẻ hơn bây giờ.

Trong khi thằng bé con đang chăm chú ăn súp nóng và xem một quyển sách tranh, Mike rít thuốc rồi nhìn anh lặng lẽ. Có quá nhiều điều cần nói với nhau, đến mức anh không biết bắt đầu từ đâu.
- Thuốc lá không tốt cho thằng bé đâu! – Anh nói.
- Lâu rồi tôi mới hút trở lại. Gặp lại cậu, bỗng nhiên tôi nhớ thời chúng ta còn trẻ, đi khắp nơi, ăn mì gói và uống cà phê hòa tan, hút bất kì loại thuốc lá nào tìm thấy.
- Nhanh thật.
- Người ta không tìm thấy xác Elsa. Cái hồ sâu thế cơ mà, sâu thứ 4 châu Á. Vụ đó đã làm lấn cấn dư luận một thời gian dài.
Anh im lặng, nghe cổ họng mình nghẹn lại đến không thể thở.
- Tôi không biết tại sao cứ muốn nói cho cậu nghe điều đó, dù tôi biết là không nên. – Mike rít thuốc – Đôi khi tôi cứ nghĩ là Elsa đã đi đâu đó, chứ không phải nằm dưới lòng hồ. Giống như tôi không thể tưởng tượng ra cái cảnh kinh khủng đó. Cô ấy còn vừa cùng cậu nấu ăn cho tôi đó, vừa pha hộ tôi tách trà nóng đó, vừa cười nói và bày cho tôi cách cưỡi ngựa để khỏi ê mông đó…
- Nếu Elsa còn sống, hẳn cô ấy đã là một phụ nữ trung niên rồi, anh nhỉ. Có thể cô ấy đã có con, và có nếp nhăn nữa… – Anh gượng cười – Mà sao em không thể tưởng tượng ra được cô ấy khi già đi. Em cứ nghĩ cô gái nói liếng thoắng như cô ấy làm sao mà có thể chững chạc được cơ chứ…

Mike vỗ vai anh. Thằng bé con muốn thêm một lát bánh mì nữa.

Bóng hai cha con Mike đã khuất khỏi cánh cửa gỗ, anh vẫn còn cầm cái gói Mike vừa đưa trên tay. Quà Giáng Sinh sớm, Mike bảo vậy. Anh giở từng lần giấy ra. Quyển sổ. Quyển nhật ký của Elsa. Từ sau dòng chữ bằng bút chì anh viết, cô không viết thêm một dòng nào. Mike có đính vào đó một tờ note nhỏ “Sau khi cậu về nước, tôi đã cố liên lạc với gia đình Elsa và nhóm thám hiểm của cô ấy. Họ đều muốn tôi chuyển cái này cho cậu. Tôi từng nghĩ không bao giờ cậu quay lại đây, nhưng rồi cũng có dịp trao nó tận tay cậu.”

Bây giờ, tiếng Pháp của anh có lẽ đã đủ để đọc cuốn nhật ký. Nhưng anh gấp nó lại, nhét sâu vào ngực áo. Anh sẽ đọc nó trên đường lên miền Bắc. Anh sẽ đọc nó giữa hồ Khuvsgol.

Rồi vài năm nữa thôi, anh có thể lấy vợ sinh con, anh có thể leo lên làm Creative Director trong công ty, rồi như ông CD của Bates, tự tử vì một lý do chó chết (con chó của ông ấy thực sự đã chết và làm ông ấy đau đớn tột cùng). Nhưng sau tất thảy anh biết mình đã có những ngày tuyệt vời nhất cuộc đời, ở cái hồ nơi tận cùng biên giới. Cái hồ ấy mùa đông đóng băng toàn bộ, lớp băng dày đến nỗi xe tải có thể chạy qua. Anh sẽ đi bộ trên lớp băng ấy, để gần Elsa nhất – theo một cách nào đó. Để dù đang ở đâu, cô cũng có thể cảm nhận rằng anh đã trở lại với cô, với buổi chiều mùa hè họ trông thấy nhau lần đầu…

NGUYỄN THIÊN NGÂN

Bình Minh Mưa.

Categories: Nguyễn Thiên Ngân, TRUYỆN NGẮN | Để lại phản hồi

Post navigation

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com. Theme: Adventure Journal by Contexture International.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 33 other followers